Hợp doanh và liên doanh

Hợp doanh bắt đầu được Nhà nước thực hiện đối với ‘các nhà tư sản dân tộc’ theo quy định tại Điều 16 của Hiến pháp [thứ hai] nước Việt nam dân chủ cộng hòa ngày 31/12/1959 và sau đó là đối với ‘Bên nước ngoài đầu tư ở Việt Nam’ theo Điều lệ về Đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 115 – CP ngày 18/4/1977. Quá trình thực hiện hợp doanh ấy từ đầu là để phủ nhận tư doanh trong nước đã đương nhiên phải thay đổi cho đúng khi giao lưu với thế giới, đó là phải chấp nhận với tư nhân nước ngoài và các hình thức Hợp tác phân chia sản phẩm, Xí nghiệp hoặc Công ty hỗn hợp, và Xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu.

.

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam số 4-HĐNN8 ngày 29/12/1987 mới là văn bản đầu tiên có ghi nhận ‘các tư nhân Việt Nam và về hợp tác kinh doanh với các nhà đầu tư nước ngoài mà trong đó liên doanh được đề cập là một trong ba hình thức, như quy định tại Điều 2:

1- “Bên nước ngoài” là một bên gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân nước ngoài.

2- “Bên Việt Nam” là một bên gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế Việt Nam có tư cách pháp nhân; các tư nhân Việt Nam có thể chung vốn với tổ chức kinh tế Việt Nam thành Bên Việt Nam để hợp tác kinh doanh với Bên nước ngoài.

3- “Đầu tư ngước ngoài” là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này.

5- “Hợp đồng hợp tác kinh doanh” là văn bản ký giữa Bên nước ngoài và Bên Việt Nam về hợp tác kinh doanh.

6- “Hợp đồng liên doanh” là văn bản ký giữa Bên nước ngoài và Bên Việt Nam về việc thành lập xí nghiệp liên doanh.

10- “Xí nghiệp liên doanh” là xí nghiệp do Bên nước ngoài và Bên Việt Nam hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước ngoài.

.

Xí nghiệp liên doanh dầu khí VIETSOVPETRO được thành lập và hoạt động theo Hiệp định liên chính phủ ngày 19/6/1981 giữa Việt nam và Liên bang Xô viết là điển hình của mô hình hợp tác kinh doanh thời kỳ này được nhiều người biết đến như là một biểu tượng của tình hữu nghị Việt nam – Liên xô trước đây, và Liên bang Nga tiếp nhận từ năm 1993 sau đó hai bên ký Hiệp định mới ngày 29/12/2010 và vẫn tiếp tục hoạt động cho đến nay. Ít ai hay rằng có một “Hãng bột Việt Ấn” thành lập tại Sài Gòn từ những năm 50 của thế kỷ trước giữa một người Ấn độ và một người Việt gốc Hoa vẫn bền bỉ hoạt động và tồn tại qua các thời kỳ: sau 1975 là “Tổ sản xuất tập thể Việt Ấn” rồi “Hợp tác xã Việt Ấn” đến ngày 21/01/1989 được cấp Giấy phép số 40/KTĐN-GPĐT là Xí nghiệp liên doanh VIANCO bắt đầu hoạt động từ 01/5/1989 cho đến nay, với những sản phẩm gia vị có tiếng và một trong đó là bột cà ry Việt Ấn, cũng thật xứng để đề cập về hợp tác kinh doanh và tình hữu nghị, có lẽ là lâu bền nhất hiện nay.

.

Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 có hiệu lực từ 01/7/2006 mới chấm dứt phân chia đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã quy định tại Điều 3 Khoản 16: Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.; và các Khoản 17, 18 và 19: Hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT những hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng…”; và quy định về Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Khoản 6”.

.

Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 hiện hành có hiệu lực thay thế từ 01/7/2015 chỉ quy định về hoạt động ‘đầu tư kinh doanh’ được định nghĩa tại Điều 3 Khoản 5 “là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. đã sửa đổi không còn gọi các hợp đồng trên là ‘hình thức đầu tư’ mà gọi đúng là… ‘hợp đồng’ như sau:

8. Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (hợp đồng PPP) là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư [xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công].thay thế cho các Hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, và hợp đồng BT; và

“9. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế. trong đó:

“16. Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. và:

“17. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.

.

Có thể thấy hợp doanh quy định bằng pháp luật ở Việt nam từ 1959 đến 1977 mới hướng đến hòa nhập lại với thế giới và từ sau năm 1987 mới thực sự trở thành hợp tác kinh doanh, ban đầu là với các nhà đầu tư nước ngoài và từ 01/7/2006 ngày Luật Đầu tư thay thế đồng thời Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 sửa đổi bổ sung năm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998, mới thống nhất nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Thành quả đáng kể ở giai đoạn đầu là hàng loạt các công ty liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài được thành lập và hoạt động, và ở giai đoạn sau phải kể đến là việc thu hút nguồn vốn rất lớn từ các nhà đầu tư theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Bài viết liên quan:

Bài viết khác:

Ý kiến của bạn