Giao nhận vận tải

 

Ở Việt Nam chúng ta biết đến một số Công ty giao nhận kho vận tên tuổi đã hoạt động từ những năm 70 của thế kỷ trước và đi đầu phát triển nghành nghề này tại Việt Nam như Viettrans, Vinatrans, Sotrans… Luật Thương mại số 58/L-CTN năm 1997 có các quy định đối với hoạt động thương mại là ‘dịch vụ giao nhận hàng hóa’ đã tạo hành lang cho sự ra đời của hàng loạt các Công ty có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải quốc tế, từ cổ phần hóa và thành lập các công ty con của doanh nghiệp nhà nước, và hơn nữa là rất nhiều các doanh nghiệp được tư nhân thành lập tuy càng về sau, cũng không ít trong đó là các Công ty giao nhận vận tải “sân sau” của một số người có vị trí trong các công ty vận tải, chính quyền cảng, chủ hàng v.v…

.

Luật Thương mại số 36/2005/QH11 có hiệu lực ngày 01/01/2006 quy định về ‘dịch vụ logistics’ thay thế ‘dịch vụ giao nhận hàng hóa’ và liên quan mật thiết với dịch vụ này, cũng đồng thời Luật hàng hải số 40/2005/QH11 thay thế Luật Hàng hải năm 1995 đã quy định về ‘vận tải đa phương thức’ thay cho ‘liên hiệp vận chuyển’ – một cách gọi không phù hợp và lỗi thời. Tuy nhiên, dịch vụ logistics trên thực tế không hề đơn giản như quy định mới tại Điều 233. Dịch vụ logistics với một vài sửa đổi nhỏ trong quy định cũ tại Điều 163. Dịch vụ giao nhận hàng hóa của thương nhân của Luật Thương mại, và hiện có rất nhiều người, nhiều công ty đang làm freight forwarding nhưng lại tự nhận là logistics, mà nếu hiểu rõ hơn phải nói là logistics bên thứ ba (3PL) hay còn gọi là logistics thuê ngoài.

.

Freight forwading (giao nhận vận tải), cơ bản là dịch vụ vận chuyển hàng hóa từ một điểm này đến một điểm khác bằng sự tận dụng quan hệ tối ưu được thiết lập giữa các (đa) phương thức vận tải: từ đường không và đường bộ đến đường biển và đường sắt, đường thủy nội địa… trong đó, người cung cấp dịch vụ là trung gian kết nối chủ hàng sử dụng những dịch vụ vận tải với giá tốt và tuyến vận tải kinh tế nhờ sự xem xét và lựa chọn chuyên nghiệp cũng như so sánh thời gian và chi phí vận tải, tính tin cậy… Một trong những ích lợi khi sử dụng dịch vụ freight forwarding là những dịch vụ liên quan không thể thiếu trong thương mại, vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng chuyên dụng, siêu trường siêu trọng, hàng nguy hiểm… như mua bảo hiểm, khai hải quan, tiến hành các thủ tục và thiết lập các chứng từ… trong đó người giao nhận vận tải có thể cung cấp chứng từ vận tải của người vận chuyển không có tàu hoặc vận đơn, lưu kho, quản lý rủi ro và các phương tiện thanh toán quốc tế.

.

Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức (VTĐPT) là quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh VTĐPT nhưng dường như chưa được nhiều người giao nhận vận tải quan tâm thích đáng, thí dụ như mình cũng thuộc đối tượng áp dụng tại Khoản 2 của Điều 1: “…; các tổ chức và cá nhân liên quan đến hoạt động kinh doanh VTĐPT.” và việc phát hành chứng từ VTĐPT buộc phải tuân thủ theo luật định, từ đó có lẽ cũng phải xem xét thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh bổ sung nghành nghề VTĐPT và đăng ký mẫu chứng từ VTĐPT với cơ quan quản lý. Trên thực tế, một số chứng từ VTĐPT do Người giao nhận vận tải phát hành với các điều khoản in ở mặt sau có các sai sót, ví dụ phổ biến như lỗi chính tả hay sử dụng bộ điều khoản của vận đơn áp dụng cho các hãng tàu vận chuyển, đang tiềm ẩn rủi ro chưa cần nói khi có tranh chấp, mà thường trực hơn là các nguy cơ từ việc khai thác và quản lý tàu, tai nạn hàng hải, giải quyết tổn thất chung, và nguy cơ dễ thấy là các khiếu nại đòi bồi thường ngoài hợp đồng. Việc đăng ký kinh doanh và mẫu chứng từ VTĐPT nghiêm túc cũng là cơ hội để rà soát các nội dung theo các chuẩn mực của tập quán quốc tế và pháp luật Việt Nam, và quan trọng hơn cũng phù hợp với xu hướng phát triển của freight forwarding thêm nhiều dịch vụ khác để trở thành logistics.

Bài viết liên quan:

Bài viết khác:

Ý kiến của bạn